Lịch Sử
TVBQGVN,
Huấn Khu Thủ
Ðức
Theo Dấu
Chân của NT Khóa 17 Nguyễn Văn Dục và Những Người Em Út 30, 31 của Tôi
Cuộc Di Tản
Cuối Cùng
Tình hình
chung của TVBQGVN từ Đà Lạt về Long Thành, cuối tháng 3 và đầu tháng 4, năm
1975

Cùi Nguyễn
Văn Dục, Khóa 17
Với tư cách
là một sĩ quan Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc
Gia Việt Nam, là người thi hành, là chứng nhân của cuôc di tản TVBQGVN từ Đà Lạt
về Trường Bộ Binh Long Thành và từ Long Thành về Huấn Khu Thủ Đức, cho đến hết
ngày 30-4-1975, tôi viết lại những dòng này. Sau 38 năm, tôi nhớ đến đâu viết đến
đó. Những điểm chính đúng 100%, nhưng ngày, tháng, giờ giấc, cũng như tên các
sĩ quan, sinh viên sĩ quan có thể quên.
Cựu Thiếu Tá
Nguyễn Văn Dục, K17 Nguyên sĩ quan Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Sinh
Viên Sĩ Quan TVBQGVN.
I. Tình hình
chung tại Đà Lạt - Tuyên Đức:
Sau khi được
tin Buôn Mê Thuột thất thủ, tình hình dân chúng ở Đà Lạt - Tuyên Đức giao động,
hoang mang, lo sợ. Những người giàu có, các thương gia đã tìm mọi phương tiện để
chuyển của cải và người về Sài Gòn. Đa số công chức đã rời bỏ nhiệm sở, thu xếp
đưa gia đình vợ con về Sài Gòn.
II. Tình
hình chung tại TVBQGVN:
Trong thời
gian này, các Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) bốn Khóa 28, 29, 30, và 31 đã tạm thời
nghỉ học, thay phiên nhau canh gác, ứng chiến, phòng thủ trường, tu sửa lại hệ
thống phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu khi hữu sự.
A. Về sĩ
quan Văn Hóa Vụ (VHV), Quân Sự Vụ (QSV), Bộ Chỉ Huy, và quân nhân cơ hữu:
Một số vẫn ở
trường làm việc như thường lệ, nhất là các sĩ quan cán bộ của Trung Đoàn SVSQ
luôn theo sát SVSQ trong công tác ứng chiến, phòng thủ trường. Cũng có một số
sĩ quan VHV, QSV, tham mưu đã tự động nghỉ việc, tìm phương tiện đưa gia đình vợ
con về Sài Gòn. Các khu cư xá sĩ quan, như khu Lý Thường Kiệt, khu Lâm Viên đã
di tản gần hết. Mỗi nơi chỉ còn lại một vài gia đình.
B. Về SVSQ bốn
Khóa 28, 29, 30, và 31:
Nhìn chung,
tinh thần của các SVSQ bốn khóa vẫn bình tĩnh, nhờ đa số đều nhìn vào tác phong
và thái độ của các sĩ quan cán bộ, từ cán bộ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng,
cho đến sĩ quan huấn luyện viên của QSV. Lúc này, các sĩ quan cán bộ các cấp
luôn luôn sát cánh với SVSQ trong công tác ứng chiến, phòng thủ. Chúng tôi thường
nói với sinh viên:
- “Nếu địch
tấn công vào trường với áp lực nặng nề, nếu chúng ta chiến đấu đơn độc không có
đơn vị nào tiếp ứng thì sinh viên bốn khóa của TVBQGVN sẽ noi gương dũng cảm của
sinh viên Trường Võ Bị Saint Cyr, của Pháp trong chiến tranh Pháp-Đức. Tất cả SVSQ
mặc đại lễ chiến đấu trên tuyến phòng thủ!”
Nghe câu nói
này, nhiều SVSQ đăm chiêu suy nghĩ, nhưng cũng có nhiều SVSQ mỉm cười tự hào.
C. Chuẩn bị
di tản:
Buổi họp cuối
cùng của trường VB tại phòng họp QSV:
Trong thời
gian này, tình hình Đà Lạt-Tuyên Đức rất căng thẳng. Đa số sĩ quan, công chức
thuộc Tiểu Khu Tuyên Đức và Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến đã đào nhiệm.
Tuy nhiên, vẫn còn lại là một số của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị tiếp
tục nhiệm vụ phòng giữ an ninh, phòng thủ trường.
Nếu áp lực địch
quá nặng, không có lực lượng trừ bị, tiếp ứng thì trường đành phải di tản để bảo
toàn lực lượng, nhất là để bảo vệ sinh mạng của các SVSQ. Vì thế, Thiếu Tướng
Chỉ Huy Trưởng ra lệnh triệu tập một buổi họp đặc biệt tại phòng họp QSV để
nghiên cứu cách di tản khi cần thiết.
1. Nhân sự:
*Chủ tọa buổi
họp: Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ, Chỉ Huy Trưởng.
*Các sĩ quan
tham dự gồm:
- Đại Tá
Nguyễn Thúc Hùng - K5, Quân Sự Vụ Trưởng.
- Thiếu Tá
Cao Yết - K16, Quân Sự Vụ Phó.
- Thiếu Tá Đặng
Thiên Thuần - K16, Trưởng Phòng Điều Hành QSV.
- Thiếu Tá
Quách Văn Thành - K17, Trưởng Khối Huấn Luyện Quân Sự.
- Thiếu Tá
Trần Đạo Hàm - K17, Trưởng Khối Huấn Luyện Thể Chất.
- Thiếu Tá
Nguyễn Văn Dục - K17, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 SVSQ.
- Thiếu Tá
Lê Diêu - K16, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 SVSQ.
2. Thảo luận:
Vì tình hình
chiến sự căng thẳng, nhu cầu bảo toàn lực lượng rất khẩn cấp, do đó trường cần
di tản. Tất cả nghiên cứu kỹ trên bản đồ để tìm lộ trình di tản an toàn, băng rừng
từ Đà Lạt xuống Phan Rang.
Sau một lúc
nghiên cứu rất cẩn thận và tỷ mỉ trên bản đồ, tất cả các thành viên đều nhận
xét:
- Lộ trình
băng rừng từ Đà Lạt - Phan Rang quá hiểm trở, điạ thế rất nguy hiểm vì các thác
nước cao và dốc.
- SVSQ phải
mang theo vũ khí, đạn dược, và quân trang, quân dụng cần thiết. Do đó, không thể
băng rừng được.
- Đề nghị
Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng cho di chuyển bằng quân xa cơ hữu của trường.
- Nếu di
chuyển bằng quân xa, phải thiết lập an ninh lộ trình, tối thiểu từ Trạm Hành đến
chân đèo Sông Pha, vì đoạn đường này rất nguy hiểm, VC có thể phục kích.
3. Quyết định:
Trong bầu
không khí căng thẳng, tôi đưa tay xin phát biểu: - “Tôi, Thiếu Tá Nguyễn Văn Dục,
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 SVSQ, xin nhận trách nhiệm đưa 1 hoặc 2 Liên Đội
SVSQ đi mở và giữ đường từ Trạm Hành đến gần chân đèo Sông Pha.”
Sau đó, Thiếu
Tướng CHT chấp nhận giải pháp di tản bằng quân xa từ Đà Lạt tới Phan Rang.
D. Mở và giữ
đường:
Hôm sau,
ngày 30/3/75, tôi nhận lệnh đưa Liên Đội G-H SVSQ trên 3 chiếc GMC của trường về
đến Trạm Hành, mở đường và giữ đường từ đây cho đến chân đèo Sông Pha. Vào xế
chiều, Liên Đội C-D cũng tới nơi. Trên lộ trình đã có một tiểu đoàn Điạ Phương
Quân (ĐPQ) của Tiểu Khu Phan Rang án ngữ các điểm trọng yếu, do một đại úy chỉ
huy. Tôi đã phối hợp hành quân với đơn vị này. Các liên đội SVSQ giữ các cầu,
các chốt gần trục lộ, trong khi tiểu đoàn ĐPQ trấn giữ các điểm trọng yếu xa và
nguy hiểm. Tôi còn nhớ câu nói thật chân tình và nhân ái của vị đại úy này:
- “Lính của
tôi quen nguy hiểm và chiến đấu, trong khi SVSQ của Thiếu Tá còn thụ huấn, chưa
quen chiến trận. Như cái chén kiểng mới tinh bị vỡ thì uổng quá.”
Đến giờ phút
này, ngồi ghi lại những hình ảnh đã qua, tôi vẫn còn nhớ những lời nói ấy. Khi
giữ đường, tôi căng võng nằm dưới gầm cầu, cạnh Đại Úy Y Sĩ Thân Trọng Minh.
Tôi cũng vào tần số với Đại Úy ĐPQ để trao đổi các tin tức và thông báo các điểm
phục kích của SVSQ.
E. Cuộc di tản:
Đêm 31-3-75,
Liên Đội A-B, còn ở lại trường sau cùng, đi bộ rời trường mẹ. Tình hình rối ren
quá mức vì làn sóng người di tản đổ dồn về hai quân Lạc Dương, Đơn Dương. Vì thế,
quân xa không thể quay trở lại đón SVSQ. Trong lúc đó, vào khoảng 20-21 giờ,
sau khi cho các SVSQ đi phục kích, an ninh các khu trọng yếu, tôi mở máy liên lạc
với tiểu đoàn ĐPQ thì mới biết toàn trường VB đã di tản và đang bị chặn lại vì
các chướng ngại vật và mìn bẫy trên đường.
Được tin
này, tôi rất xúc động, cố nén và theo dõi cuộc đối thoại trong máy truyền tin
giữa Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng và Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng ĐPQ:
- Tôi, Thiếu
Tướng Lâm Quang Thơ, CHT/ TVBQGVN đây.
- Xin lỗi,
tôi không biết Thiếu Tướng. VC cũng có thể giả Thiếu Tướng được.
-Vậy, Đại Úy
biết ai? Ông thầy của Đại Úy là Đại Tá Tự đã đi rồi.
- Ở đây, tôi
chỉ biết Thiếu Tá Nguyễn Văn Dục, Tiểu Đoàn Trưởng SVSQ Đà Lạt, đang cùng tiểu
đoàn của tôi giữ đường.
- Cho mời
Thiếu Tá Dục vào máy gặp tôi. Nghe vậy, tôi vội vàng trả lời: - “Thưa Thiếu Tướng!
Tôi, Thiếu Tá Dục đây. Thưa Thiếu Tướng, trường đã di tản hết sao không cho tôi
hay? Tôi còn một tiểu đoàn SVSQ đang phục kích, đóng chốt trên trục lộ. Xin Thiếu
Tướng đợi cho tôi gom quân đã.”
Tôi cũng
liên lạc ngay với Đại Úy TĐT/ ĐPQ: - “Đúng là Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ, CHT/
TVBQGVN đó. Đại Úy cho mấy đứa con gỡ mìn và kéo các con ngựa sắt qua hai bên
đường cho đoàn xe di chuyển. Cám ơn bạn. Rất vui về thời gian vừa qua đã làm việc
với bạn. Tình hình chiến sự như vậy đó, bạn đã rõ. Bạn hãy lo cho các con của bạn.
Tạm biệt.”
Tôi nói mấy
câu sau cùng trong nghẹn ngào. Các SVSQ đã ra trục lộ. Sau khi kiểm soát đủ
quân số, tôi cho lệnh lên xe cùng trường di tản.
F. Đến Phan
Thiết:
Đoàn quân xa
của trường di tản đến Tiểu Khu Phan Thiết vào quá nửa đêm, nên tất cả ngủ trong
khuôn viên của tiểu khu. SVSQ của bốn khoá và quân nhân cơ hữu của trường đánh
một giấc ngủ ngon lành, quên cả đói sau một ngày vất vả. Trong đêm, cũng có một
số sĩ quan QSV và Bộ Tham Mưu lẻn ra bờ biển, xé lẻ, thuê ghe về Vũng Tàu trước.
Chuyến đi này của họ cũng khá vất vả, nhưng rất may họ đã đến Vũng Tàu an toàn.
Sáng hôm
sau, khoảng 7-8 giờ sáng, tiểu khu bị pháo kích. Đạn nổ quanh tiểu khu, trên Quốc
Lộ 1, và các trục lộ của thị xã. Trong lúc này, quân xa, xe dân sự, dân chúng,
quân nhân các binh chủng khác chạy tán loạn. Một cảnh hỗn loan thật là khó tả.
Riêng SVSQ của bốn khoá đã an toàn ở trong khuôn viên tiểu khu.
Tôi đã gặp
Thiếu Tá Quách Văn Thành - K17, Trưởng Khối Huấn Luyện Quân Sự, và Đại Úy Quách
Tinh Cần, K20. Họ cho biết, lệnh của Thiếu Tướng là cho tất cả SVSQ ra bờ biển
để tàu Hải Quân đến đón.
1. Di chuyển
đến bờ biển Phan Thiết.
SVSQ đã đến
bờ biển. Than ôi! Không có tàu Hải Quân nào cả. Trên bãi biển, có đủ quân nhân
của các quân binh chủng trong cảnh hỗn loạn đang dành dật ghe thuyền của dân
đánh cá để di chuyển...
Lại một lần
nữa, tôi cho lệnh SVSQ quay trở lại Quốc Lộ 1 để tiếp tục di chuyển bộ về Bình
Tuy. Được tin cầu Phan Thiết sẽ phải giật sập, tôi cho lệnh và hối thúc SVSQ bốn
khóa di chuyển nhanh qua cầu. Trên lộ trình di chuyển, xe cộ, dân chúng, quân
nhân các cấp đang hỗn loạn chen lấn. Một cảnh hỗn loạn chưa từng có. Tuy vậy,
SVSQ trường Võ Bị vẫn di chuyển trật tự, súng đặt cầm tay sẵn sàng chiến đấu.
Nhìn nét mặt cương nghị của họ, dân chúng an tâm, tin tưởng, di tản theo SVSQ.
Nhiều bà cụ còn nhờ họ mang dùm xách tay, va li nhỏ chứa đựng đồ quý mà không sợ
bị mất mát. Điều này chứng tỏ, trong tình cảnh hỗn độn nhất, SVSQ trường Võ Bị
vẫn được tin tưởng và SVSQ luôn sẵn sàng phục vụ và bảo vệ dân chúng. Đang di
chuyển, tôi gặp xe jeep của Đại Tá Nguyễn Thúc Hùng, QSV Trưởng. Đại Tá Hùng ra
lệnh:
- “Anh cho
SVSQ về Bình Tuy!”
Chiếc xe
Jeep tiếp tục lao về phía trước. Tôi nghẹn ngào không nói được, nhìn theo.
2.Quá giang
về Bình Tuy:
Từ địa điểm
mà tôi gặp Đại Tá Hùng cho đến ngã ba vào Bình Tuy còn rất xa. Tuy SVSQ vẫn cố
gắng giữ chặt kỷ luật và di chuyển, nhưng thật sự họ rất mệt, đói, và khát. Tôi
quyết định cho họ quá giang trên tất cả các loại xe có thể tìm được: xe đò, xe
chở đồ đạc, xe chở súc vật, quân xa; cố gắng “đeo theo”, “bám theo”. Miễn sao,
họ ráng giữ an toàn về đến ngã ba Bình Tuy, nhưng không được về Sài Gòn vì VC
đã nằm đầy, phục kích ở Rừng Lá.
3. Tạm giao
nộp vũ khí trước khi vào Bình Tuy.
Được lệnh của
Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, K10, Tư Lệnh Chiến Trường Bình Tuy:
- “Tất cả
các đơn vị vào Bình Tuy phải giao nộp vũ khí. Không ai được mang bất cứ một loại
vũ khí nào vào thị trấn.” Lệnh này được đưa ra để đề phòng các quân nhân vô kỷ
luật, làm loạn, mất an ninh trong thành phố.
Lúc đó, tôi
gặp Trung Tá Ngô Văn Xuân, cùng Khoá 17 với tôi, đang chỉ huy cuộc hành quân ở
đây. Tôi nói với Trung Tá Xuân rằng SVSQ/ TVBQGVN giữ đúng kỷ luật, không làm
loạn, không cần giao nộp vũ khí. Trung Tá Xuân nói với tôi:
- “SVSQ Võ Bị
phải làm gương cho các đơn vị khác noi theo.”
Vũ khí của
SVSQ được đưa lên một chiếc GMC riêng, và được trả lại cho họ khi xe đến Trung
Tâm Chiêu Hồi. Riêng các sĩ quan cán bộ của Trung Đoàn SVSQ vẫn được mang súng
vào Bình Tuy.
4. Tạm nghỉ
đêm tại Trung Tâm Chiêu Hồi Bình Tuy:
Bốn khoá
SVSQ và một số quân nhân cơ hữu của trường nghỉ đêm tại trung tâm này, sau khi
được Chuẩn Tướng Nhựt cung cấp lương khô và nước uống. Các SVSQ ăn uống no nê
và bắt đầu ngủ, nghỉ ngơi. Trong khi đó, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt và Thiếu Tướng
Lâm Quang Thơ đã liên lạc về Phòng 3, Bộ Tổng Tham Mưu, xin phương tiện trực
thăng, vận tải để di chuyển SVSQ và quân nhân cơ hữu của trường về Long Thành.
G. Di tản về
Long Thành:
Đến khuya
hôm đó, trong thinh lặng, các SVSQ và quân nhân cơ hữu được GMC của tiểu khu di
chuyển ra phi trường Bình Tuy. Sáng sớm, trực thăng đến. Theo lệnh của phi hành
đoàn, các SVSQ, chia thành từng toán đúng với trọng tải cho phép của máy bay trực
thăng, tuần từ lên máy bay một cách gọn gàng, nhanh chóng. Đó là một cuộc di tản
trong trật tự, kỷ luật. Các phi công, tỏ lòng khâm phục, đã nhận xét:
- “Chúng tôi
chuyên chở rất nhiều đơn vị, nhưng chưa có đơn vị nào có kỷ luật như các anh.
Chúng tôi cố gắng “bốc” hết trong ngày hôm nay.”
Điều này khiến
chúng ta phải hãnh diện và tự hào là những SVSQ của trường VBQGVN.Dù trong hoàn
cảnh bi đát, nghiệt ngã nào đi nữa, các SVSQ của bốn Khóa 28, 29, 30, và 31 vẫn
duy trì kỷ luật thép của Trường Mẹ.
Gần đến chiều
trong ngày, tất cả các SVSQ và quân nhân đều đã được di chuyển đến trường Bộ
Binh Long Thành, nhận doanh trại, nhận khu vực canh gác, phòng thủ. Tất cả mọi
việc từ ăn uống, sinh hoạt hàng ngày đều nhờ Trường Bộ Binh Long Thành. Trung
Đoàn SVSQ/ TVBQGVN được bổ xung súng đạn và các quân trang, quân dụng cần thiết.
Đà Lạt - Trường
mẹ đã xa rồi!
H. Mãn Khóa
28 và 29 tại Vũ Đình Trường Trường Bộ Binh Long Thành:
Cuộc chiến tự
vệ càng ngày càng khẩn cấp trước đà tiến quân của CS Bắc Việt, đã càng ngày
càng đè nặng lên quân đội VNCH. Bộ TTM đã quyết định cho hai Khóa 28 và 29 tốt
nghiệp sớm để bổ xung sĩ quan chỉ huy cho các đơn vị tác chiến.
Trưa ngày
24-4-1975, lễ mãn khóa cho hai Khóa 28 và 29 được tổ chức tại Vũ Đình Trường
Trường Bộ Binh Long Thành. Một buổi lễ mãn khoá thật đơn giản, trong bộ chiến
phục, không kèn không trống. Chỉ có hai lá Quốc Kỳ và Quân Kỳ TVBQGVN mà nhà sản
xuất Phước Hùng đưa lên từ hôm trước. Một lễ mãn khóa quá đơn giản như vậy chưa
từng xảy ra trong lịch sử của Trường Mẹ. Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Cục
Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, đại diện Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, gắn các cấp bậc
thiếu úy cho hai SVSQ Thủ Khoa. Sau đó, các tân sĩ quan tự động gắn cấp bậc
cho mình.
Trong khi
đó, các xe GMC của các đơn vị tiếp nhận đã đợi sẵn để đưa các tân thiếu úy của
hai Khoá 28 và 29 ra mặt trận. Tôi bước lên khán đài để nói mấy lời tạm biệt với
hai khóa đàn em, đã rời khỏi vòng tay yêu thương của cùi đàn anh này; nhưng nghẹn
ngào, nước mắt lưng tròng, không thốt nên lời.
Các tân sĩ
quan không có được vài phút chia tay bố mẹ, người thân, người yêu,... trước khi
lâm trận. Nhưng hai Khoá 28 và 29 phải hãnh diện và tự hào vì đã xung trận đúng
vào lúc Tổ Quốc nguy nan và chế độ tự do đang bị đe dọa. Đó là ước nguyện của
các SVSQ Khóa 28 và 29 từ ngày đầu tiên gia nhập TVBQGVN.
I. Di tản về
Huấn Khu Thủ Đức:
Sau khi Trường
Bộ Binh Thủ Đức rời về Long Thành, trường cũ được giao lại cho các trường Quân
Cụ, Quân Nhu, Truyền Tin, Quân Vận,... và được gọi là Huấn Khu Thủ Đức. Sau khi
hai Khoá 28 và 29 tốt nghiệp, TVBQGVN còn lại hai Khoá 30 và 31, nên thu hẹp
khu vực phòng thủ. Một đêm, VC tấn công vào trường Thiết Giáp bên cạnh Trường Bộ
Binh Long Thành. Trong trận này, Thiếu Úy Hoàng Văn Nhuận, Thủ Khoa Khóa 27, đã
hy sinh đền nợ nước. Sáng hôm sau, SVSQ của Trường Bộ Binh và Trường VB được lệnh
di tản về Huấn Khu Thủ Đức. Khoá 30 và 31 được ở các doanh trại từ cổng chính
đi vào đến Cổng Số 9, cạnh trại gia binh của Thiết Giáp ở bên phải. Các SVSQ Võ
Bị được phân chia khu vực phòng thủ cạnh SVSQ Thủ Đức.
Được lệnh của
Tổng Cục Quân Huấn, TVBQGVN được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lộ Công
Danh, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Bộ Binh.
Trong thời
gian ở Huấn Khu Thủ Đức, các sĩ quan đã sống với tôi, gồm có: Thiếu Tá Đinh
Thành Linh, Đại Úy Nguyễn Hữu Thức - K22; cùng các sĩ quan cán bộ đại đội trưởng:
Đại Úy Nguyễn Đình Thọ, Khoá 22; các sĩ quan của Khoá 23:Phạm Ngọc Hiền, Huỳnh
Văn Hoa, Huỳnh Hương, Tô Tài, Đào Mạnh Thường, Nguyễn Ngọc Tiên; và Thiếu Úy Phạm
Minh Tâm, K25, sĩ quan cán bộ đại đội trưởng. (Người SVSQ duy nhất của trường
VBQGVN tốt nghiệp từ Trường Võ Bị West Point, Hoa Kỳ (USMA, class 1974).) Ngoài
ra, Trung Sĩ Nhất Bình, Khoa Vũ Khí, đã phụ giúp tôi việc ăn uống.
Trong số này
chưa kể đến các sĩ quan VHV, được biệt phái cho Trung Đoàn SVSQ, thuộc khoá 23:
Bùi Nguyên Hy, Nguyễn Xuân Nghị, Trần Xuân Phước, Dương Công Thơ, Trần Vĩnh Thuấn;
và các sĩ quan khác còn ở lại cho đến những ngày cuối cùng.
Gia tài của
Mẹ tôi giữ vào những giờ phút chót là hai lá cờ Quốc Kỳ VNCH và Quân Kỳ
TVBQGVN, một xấp sự vụ lệnh, và con dấu của VBQGVN do Phòng Tổng Quản Trị giao
cho tôi.
J. Bắn hạ
chiến xa T54 của VC:
Sáng 30-4
1975, SVSQ Khóa 30 báo cáo là T54 của Việt Cộng đã di chuyển đến gần cổng chính
của Trường Bộ Binh cũ. Hai chiếc T54 vào Huấn Khu từ cổng chính, chạy đến cổng
số 9, bắn sập cổng này, chạy loanh quanh bắn phá một lúc, rồi lại chạy ra cổng
chính. SVSQ của 2 Trường Bộ Binh và Võ Bị ra vị trí phòng thủ với M16 nên không
thể bắn hạ các chiến xa này. Thấy xe T54 của Việt Cộng nguy hiểm quá, tôi cùng
với mấy SVSQ Khóa 30 chạy đến kho vũ khí của trường Quân Cụ để tìm vũ khí.
May thay,
còn tám khẩu M72 chống chiến xa nên SVSQ K30 mang về vị trí phòng thủ. 4 VB giữ,
4 giao cho SVSQ Thủ Đức. Các xe T54 của VC lại một lần nữa chạy qua cổng chính
vào bắn phá các doanh trại gần đó. Trung Tá Ông Nguyên Tuyền của Trường Bộ Binh
tử nạn. Một SVSQ Khoá 30, là cựu Thiếu Sinh Quân, đã bắn cháy một chiếc
T54.SVSQ Trường Bộ Binh Long Thành cũng bắn hạ một T54 nữa.
Vào khoảng
10 giờ sáng, lúc hai chiến xa của địch còn đang bùng cháy thì chiếc radio xách
tay loan báo tin động trời: Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa, ra lệnh đầu hàng và giải tán chính quyền, bàn giao cho Việt Cộng.
Tim mọi người người lúc đó thắt lại. Họ nhìn nhau ngơ ngác, nước mắt chảy dài
trên má... Thôi hết rồi! Đang chết lặng thì một SVSQ Khóa 30 mang máy đến bảo
là lệnh của Đại Tá Lộ Công Danh, Chỉ Huy Trưởng:
- “Thiếu Tá
hãy tập hợp tất cả SVSQ để chuẩn bị bàn giao...”
Tôi trả lời
rằng tôi không bàn giao, không thi hành.
K. Chia tay:
Tôi vội vàng
moi đất cát gần một ụ súng cối và chôn hai lá cờ và con dấu. Tập họp SVSQ lại,
tôi nghẹn ngào tâm sự với hai khoá đàn em thân yêu trong giây phút nước mất,
nhà tan này:
- “Thôi hết
rồi. Tất cả đã ngoài tầm tay của tôi. Chia tay với các chú, mong các chú an
toàn trở về với gia đình. Tôi không ngờ và rất ân hận vì việc xảy đến một cách
nhanh chóng như thế này?!! Nếu biết vậy, tôi đã để các chú tự động rời trường sớm,
để khỏi thấy cảnh đau xót này! Các chú ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định tạm đưa các
chú ở cao nguyên, miền Trung... về nhà tá túc một vài ngày, để họ tìm phương tiện
trở về quê. Tạm biệt! Tạm biệt!
Nước mắt của
tôi tự nhiên trào ra ướt má... Ngoài cổng chính, Việt Cộng đã và đang phân loại...
Tôi, ra khu tiếp tân cạnh Niệm Phật Đường, dừng chân vài phút, cùng niệm Phật với
một SVSQ Khoá 30. Tôi hỏi một quân nhân của trường là khu tiếp tân này có gài
mìn hay không? Anh ta bảo không có. Tôi và chú SVSQ Khoá 30 cùng chui hàng rào
ra khu nhà dân chúng. Một trung sĩ an ninh của trường cho tôi một bộ áo quần
dân sự, bảo tôi thay để tránh nguy hiểm trong lúc đi đường.
Hai thày trò
thất thểu băng đồng, song song với xa lộ Biên Hòa, hướng về Sài Gòn. Trên lộ
trình, tôi gặp một thanh niên mang trên mình hơn chục cái ruột bánh xe hơi. Tôi
chặn lại xin hai cái. Chú K30 ngơ ngác hỏi tôi:
- “Ông thầy
lấy ruột bánh xe làm gì?” Tôi cười và đáp: - “Từ đây về Sài Gòn phải qua cầu Xa
Lộ, cầu Phan Thanh Giản. Nếu cầu bị phá xập, mình thổi ruột xe, vượt sông...”
Tuy vậy, hai
thầy trò về tới đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi rẽ sang đường Tự Đức an toàn, vì cầu
vẫn còn nguyên vẹn. Tôi ghé nhà người của bạn thân, Trung Úy Liên, mà vợ con
tôi đang tá túc. Vợ tôi nấu cơm, mở hộp cá mòi. Hai thầy trò ăn uống qua loa
cho qua cơn đói.
Chú SVSQ
Khóa 30 xin từ giã để đi qua Gia Định, vì có người bà con ở bên đó. Tôi hỏi:
- “Em có tiền
không?” Chú lôi ra một cọc tiền và bộ đồ đại lễ mà chú vẫn còn ôm làm kỷ niệm.
Chú nói:
- “Em, qua
Gia Định, xem tình hình thế nào rồi về quê.” Tôi nghẹn ngào chia tay với người
đàn em đã theo tôi và sống với tôi đến phút cuối cùng của vận nước điêu linh.
(Tới bây giờ,
tôi vẫn không nhớ nổi chú sinh viên khóa 30 này tên gì? Đi về đâu và hiện ở
đâu? Nhờ các chú Khóa 30 giúp tôi tìm lại và tin cho tôi biết. Cám ơn các chú.)
*Những ngày
cuối tháng 3 và 2013- Để nhớ lại những ngày qua, cách đây 38 năm, ngày mất nước.
Tọa độ GPS 10.84357, 106.79515
 |
HKTÐ: Huấn Khu Thủ Ðức |
Sources: