Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế (1/12/1948 – 1/10/1950)
![]() |
CSVSQ/K1
Nguyễn Huy Hùng |
Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa trong giai đoạn hình thành 1946-1955. Phòng 5/BTTM/QLVNCH, 1972. Trang 193. |
Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế (1/12/1948 – 1/10/1950)
![]() |
CSVSQ/K1
Nguyễn Huy Hùng |
Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa trong giai đoạn hình thành 1946-1955. Phòng 5/BTTM/QLVNCH, 1972. Trang 193. |
Public Opinion Analysis of the Movie Red Rain:
Respectfully forwarding to the Organizing Committee of the 2026 OSCAR Film Awards a Youtube ™ video analysis of the Movie Red Rain. We hope that the Organizing Committee of the 2026 OSCAR Film Awards will consider the value, moral qualities, and harm of this movie to the younger generation and Americans who are not familiar with the toxic nature of communists.
Hoang Hoa
/@SaigonfilmsMedia
2025/11/21
The Movie Red Rain is analyzed through the actual battlefield of the battle to retake the Town and the Ancient Citadel of Quang Tri through 3 characters:
- Author Chu Lai did not participate in the battle.
- CSBV veteran Trinh Hoa Binh participated in the Quang Tri battle.
- RVN Marine Major Le Quang Lien participated in the battle from March 1972 to September 16, 1972.
This Youtube(TM) video presents very honestly the situation and reality of the battles to retake the Ancient Citadel of Quang Tri of the Republic of Vietnam Armed Forces and has a clear and accurate conclusion that the purpose of Red Rain is to propagate, distort, and fabricate details to guide public opinion, poison, and distort the perception of young people in the country born after April 1975 about the Republic of Vietnam regime.
--
Dư Luận Công Chúng Phân Tích về Phim Mưa Ðỏ:
Kính chuyển đến
Ban Tổ Chức Giải Thưởng Phim OSCAR 2026 Youtube ™ video phân tích về Phim Mưa Ðỏ.
Chúng tôi hy vọng Ban Tổ Chức Giải Thưởng Phim OSCAR 2026 xem xét giá trị, phẩm
chất đạo đức, và tác hại của phim này cho thế hệ trẻ và những người Mỹ không am
tường bản chất độc hại người cộng sản.
Hoàng Hoa
/@SaigonfilmsMedia
2025/11/21
Họ là “Những
Người Rất Không Thành Thật”
Lời đề nghị
chân thành đến OSCAR 2026 về phim Mưa Ðỏ:
Trong Phim Mưa
Ðỏ của cộng sản Việt Nam có cảnh người lính VNCH thiȇu sống một tù binh cộng sản
Bắc Việt tại mặt trận Quảng Trị, Việt Nam vào năm 1972.
Ðây là một sự
bịa đặt trắng trợn của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, nhằm vu khống, bôi xấu
hình ảnh người lính VNCH trước dư luận quốc tế và đầu độc người dân Mỹ khi xem
phim này.
Những người
làm phim này là “Những Người Rất Không Thành Thật.”
Sự kiện giả tạo, xấu xa và ghȇ tởm trong phim Mưa Ðỏ về cảnh người lính VNCH thiȇu sống tù binh cộng
sản Bắc Việt đã chứng tỏ, sự không thành thật của những người cộng sản Việt Nam
khi làm bộ phim lịch sử này.
Yȇu cầu
OSCAR 2026 không chấp nhận phim Mưa Ðỏ của Việt Nam cho tiến trình giải OSCAR
2026.
/@SaigonFilmsMedia
https://www.youtube.com/user/SaigonFilmsMedia/videos
VNR Vietnam
Reviews http://www.quandiemvietnam.blogspot.com/
---
They Are
“Very Dishonest People”
Headline
quote: Donald Trump Declares Victory After Shock BBC Resignations: “These Are
Very Dishonest People”
Sincere
request to OSCAR 2026 about the film Red Rain:
In the film
Red Rain of the Vietnamese communists, there is a scene where a VNCH soldier
burned alive a North Vietnamese communist prisoner of war at the Quang Tri
front, Vietnam in 1972.
This is a
blatant fabrication by the Vietnamese communist government, aiming to slander
and defame the image of the VNCH soldier before international public opinion
and poison the American people when watching this film.
The people
who made this film are “Very Dishonest People.”
The fake, evil and horrible event in the film Red Rain about the scene where a VNCH soldier burns alive
a North Vietnamese communist prisoner of war has proven the dishonesty of the
Vietnamese communists when making this historical film.
Requesting
the 2026 OSCAR not to accept the Vietnamese film Red Rain for the 2026 OSCAR
process.
Thank you
Hoang Hoa
/@SaigonFilmsMedia
https://www.youtube.com/user/SaigonFilmsMedia/videos
VNR Vietnam
Reviews http://www.quandiemvietnam.blogspot.com/
Bốn trụ cột đã thành lập Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế
“Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam đã được thành lập dựa trȇn ý chí, lòng yȇu nước và tinh thần tự chủ độc lập.”
![]() |
Cựu Hoàng Bảo Ðại, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Ông Trần Văn Lý,
và Ông Phan Văn Giáo là bốn trụ cột đã thành lập Trường Sĩ Quan Hiện Dịch
Huế. |
![]() | ||
Sau
ký kết Hiệp định Vịnh Hạ
Long ngày 5 tháng 6, 1948, ngày 6/6/1948 Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân công bố danh sách Chính phủ Trung ương Lâm thời
trong đó có nhân vật chính yếu Ông Phan Văn Giáo là Thủ hiến Trung kỳ.
|
![]() |
Cựu Hoàng Bảo
Ðại ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long 5/6/1948 với Cao Ủy Bollaert dưới tàu Duguay
Trouin. |
![]() |
| Từ trái qua phải là Cựu Hoàng Bảo Ðại, Cao Ủy Bollaert, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Hữu Trí (X), Phan Văn Giáo (Y), Trần Văn Lý (Z) |
![]() |
| Tàu Duguay Trouin. |
Trích Sách:
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong giai đoạn hình thành 1946-1955 |
Khóa 1 Trường
Sĩ Quan Việt Nam tại Huế (1/12/1948 – 1/6/1949)
Khóa 2 Trường
Sĩ Quan Việt Nam tại Huế (1/9/1949 – 1/7/1950) thì vào ngày 11/5/1950 Quốc Hội
Pháp chấp thuận cho Việt Nam được thành lập Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam theo đề
nghị của Thủ tướng Pháp. Ðiều này cho thấy Trường Sĩ Quan Việt Nam tại Huế đã được
thành lập và mở khóa đào tạo ngày 1/12/1948 trước khi Quân đội Quốc gia Việt
Nam được chính thức công nhận vào ngày 11/5/1950. Thời gian này Thủ tướng Việt
Nam là Ông Trần Văn Hữu.
Ai Là Người Sáng Kiến Thành Lập Trường Sĩ Quan Hiện Dịch tại Ðập Ðá, Huế 1948?
Các tài liệu
tham khảo:
1.
Quân
Sử 4. Quân Lực VNCH trong giai đoạn hình thành 1946-1955. Tác giả Phòng 5 Tổng
Tham Mưu (Khối Quân Sử) thực hiện. 1972.
Cơ
Sở Ðại Nam xuất bản.
| Ông Phan Văn Giáo |
Nắm bắt được xu hướng này, từ giữa năm 1947, Phan Văn Giáo cùng nhiều chính khách người Việt khác, nhiều lần sang Hongkong tiếp xúc và vận động cựu hoàng Bảo Đại thành lập một chính phủ nằm trong khối Liên hiệp Pháp chống Việt Minh. Ngày 9 tháng 9 năm 1947, Phan Văn Giáo tham gia phái đoàn 24 nhân sĩ sang Hồng Kông dự hội nghị các đảng phái Việt Nam cùng với cựu hoàng Bảo Đại để thương thuyết về thời cuộc Việt Nam.[4]
Sau thất bại của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ và Chiến dịch Léa 1947, chính phủ Pháp đành thiên hẳn về chủ trương vận động Giải pháp Bảo Đại. Ngày 27 tháng 5 năm 1948, Trung tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam (Provisional Central Government of Vietnam), mở đường cho cựu hoàng Bảo Đại về nước chấp chính. Phan Văn Giáo được bổ nhiệm làm Quốc vụ khanh Tổng trấn Trung phần.[5]
Trong cuộc tiếp kiến tại Hongkong giữa năm 1948, Phan Văn Giáo đã trình bày với cựu hoàng Bảo Đại về ý tưởng thành lập một lực lượng quân sự bản xứ, nhằm hình thành một quân đội độc lập với người Pháp. Tán thưởng ý tưởng này, cựu hoàng đã tuyên bố bổ nhiệm ông vào cấp bậc Trung tướng (Général de division), với nhiệm vụ xây dựng một đội quân mới trong tương lai. Vì vậy, sau khi về nước, tại lễ diễn binh trước lầu Ngọ Môn, thủ tướng lâm thời Nguyễn Văn Xuân đại diện quốc trưởng đã gắn ba ngôi sao bạc lên vai ông Phan Văn Giáo.[6] Chức phận mới cho phép ông điều phối mọi hành động quân sự tại Trung Việt.
Ông ngay lập tức cải tổ lực lượng Bảo vệ quân do người tiền nhiệm Trần Văn Lý thành lập, vốn chỉ giới hạn trong phạm vi giữ gìn trị an, thành Việt binh đoàn[7] với vai trò như một đội quân chiến đấu thực sự.[8] Chỉ huy trưởng Việt binh đoàn là Đại úy (được ông thăng lên Thiếu tá) Nguyễn Ngọc Lễ, một cựu lính khố đỏ.[9] Với sự hỗ trợ của người Pháp, ông cũng cho thành lập Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá (Huế) nhằm đào tạo ra các sĩ quan người Việt bản xứ cho Quân đội Quốc gia Việt Nam trong tương lai.[10] Ông không che giấu tham vọng phát triển Việt binh đoàn thành một lực lượng chiến đấu 10.000 người, đủ sức thay thế quân Pháp trong cuộc chiến chống Việt Minh.
Ngày 28 tháng 4 năm 1949, với vai trò Thủ hiến Trung phần, ông thân hành đón cựu hoàng Bảo Đại trở về nước dưới chân cầu thang phi cơ tại phi trường Liên Khương (Đà Lạt). Ngày 3 tháng 7 năm 1949, Quốc trưởng Bảo Đại ký quyết định chính thức bổ nhiệm thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí, Trung Việt Phan Văn Giáo và Nam Việt Trần Văn Hữu.
Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập lực lượng quân đội quốc gia với tên gọi là Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người. Việt binh đoàn do đó còn có tên gọi là Vệ binh Trung Việt. Để thể hiện thành quả, ngày 24 tháng 8 năm 1950, Thủ hiến Phan Văn Giáo đã cho tổ chức một hỗ trợ biểu dương cho lực lượng Việt binh đoàn. Trong dịp này, ông cũng được Quốc trưởng Bảo Đại chính thức trao huy hiệu Trung tướng và bổ nhiệm chức vụ Tổng thanh tra quân đội Việt Nam, kiêm Thủ hiến Trung Việt.[11]
(Excerpt from Wikipedia)
Note by Hoang Hoa:
"Trung tướng
Nguyễn Văn Xuân được cựu hoàng Bảo Ðại chỉ định thành lập chính phủ trung ương
lâm thời, sau ngày ký Hiệp định Vịnh Hạ Long 5/6/1948 giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và
Bollaert trȇn tàu Duguay Trouin, nhưng sau đó cựu Hoàng Bảo Ðại chưa về nước.
Cựu Hoàng Bảo
Ðại về nước ngày 28/4/1949 mãi tới ngày 2/7/1949 Ông mới về nước thành lập tân
nội các do ông làm quốc trưởng kiȇm thủ tướng chính phủ. Ông Nguyễn Văn Xuân
làm phó thủ tướng kiȇm tổng trưởng quốc phòng.
Như vậy Trường Sĩ Quan Việt Nam do Ông Phan Văn Giáo, có mặt trong chính phủ lâm thời, thành lập ngày 1/12/1948 thì khi đó cựu Hoàng Bảo Ðại chưa về nước.
Lễ Tốt Nghiệp Khóa 1 của TSQVN vào cuối tháng 5/1949, Thủ Hiến Trung Kỳ Phan Văn Giáo đã đi chủ tọa thay cho cựu Hoàng Bảo Ðại đặt tȇn Khóa là Bảo Ðại.”
3. Ông Phan Văn Giáo: Các hình ảnh lịch sử và hoạt động chính trị
https://picryl.com/topics/phan+van+giao
Kích thước đo đạt theo Google’s Earth cho thấy các điểm sai của hai bài viết.
![]() |
| Chiều dài đường Lȇ Lợi khoảng 790m, bề ngang từ đường Lȇ Lợi ra bờ sông chỉ có 106m |
![]() |
| Chiều dài đường Lȇ Lợi khoảng 790m, bề ngang từ đường Lȇ Lợi ra bờ sông chỉ có 106m |
1. Tấm bản đồ Huế 1968, Khu Sĩ Quan Ðộc Thân trȇn nền của Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế (#101)
Tấm Bản Ðồ Huế 1968, Khu Sĩ Quan Ðộc Thân trȇn nền của Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế (#101)
Tấm Bản Ðồ Thành
phố Huế 1945, cho thấy đã có một tòa nhà tại vị trí TSQHD Huế
Thoáng nghe ai đó nhắc tới Ngày Tạ ơn năm nay 2025 vào ngày Thứ Năm 27/11/2025, tôi chợt thấy chạnh lòng. Từ khi đến Mỹ mỗi năm đến mùa Lễ Thanksgiving, tôi chỉ biết nghĩ nhiều đến một Thanksgiving theo tập tục của người Mỹ nhắc tôi nhớ về sự tạ ơn có liȇn quan giữa người da trắng di dân (Pilgrims=hành hương) đã thu hoạch mùa gặt hái tốt lành nhờ được sự giúp đỡ của người thổ dân qua mùa Ðông khắc nghiệt năm 1621 tại Plymouth, Massachusettes. Khi tôi nhìn lại mình trong tâm trí, chợt thấy một nỗi xót xa khi nhớ những ngày đầu tiȇn tôi bước qua cổng Trường Võ Bị đã được un đúc, giáo dục, nuôi dưỡng bằng biết bao khó nhọc của bao nhiȇu người và tình cảm thân thương dưới mái trường thân yȇu đó. Cuộc đời tôi đang giữa mùa Ðông khắc nghiệt 1968, khi chiến tranh tràn lan khắp mọi miền đất nước, khi tương lai tôi là vô định, bị cuốn hút trong một lý tưởng, nhưng lạc lối. Mái trường Ðại Học Khoa Học Sài Gòn không còn là nơi dung thân cho tôi. Vì thế, tất cả những gì tôi đã học, rèn luyện được nơi Trường Mẹ là của cải quý báu đã nuôi dưỡng tâm trí tôi, nuôi sống tôi, gấp trăm vạn lần những của cải thu hoạch trong mùa Ðông giá lạnh năm 1621 cho qua cơn đói rét, vậy mà rồi mỗi mùa Thanksgiving cứ trôi qua. Hôm nay tôi thử tìm cách đi ngược giòng lịch sử vào những ngày đầu tiȇn của Trường Mẹ, 1/12/1948, và muốn biết ai đã đứng sau lưng Ngôi Trường ấy, Trường Sĩ Quan Hiện dịch Huế, hay Trường Sĩ Quan Việt Nam tại Ðập Ðá, Huế, Việt Nam qua một bài viết đăng trȇn Fb ngày 4/6/2024 của tác giả Lȇ Hồng Minh, và rồi tôi sẽ tìm hiểu tiếp trong những bài tiếp theo 78 Năm Nghĩ về Kỷ Niệm.
Ðối với tôi,
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam chỉ là một copy, một copy có thể mất và có thể
có một copy mới bởi vì tâm trí con người sẽ có đủ trí tuệ để tạo ra một copy
mới đẹp hơn nhiều.
Sau cùng, ai đã có một suy nghĩ vượt thời gian
trước tôi? Như bài viết của Lȇ Hồng Minh sau đây:
Bài này tác giả Lȇ Hồng Minh tựa đề “75 NĂM
TRƯỚC Ở HUẾ TỪNG CÓ TRƯỜNG QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM!”
Lời tôi ghi chú: Thật ra Trường Quân Sự đầu
tiȇn tại Ðập Ðá, Huế mở ra ngày 1/12/1948 không phải là trường quân sự đầu tiȇn
mà là Khóa Liȇn Quân Viễn Ðông khai giảng ngày 15/7/1946 tại Ðà Lạt.
Bài viết của Lȇ Hồng Minh được tôi cho font chữ
in nghiȇng. các note màu đỏ là sai.
---
75 NĂM TRƯỚC Ở HUẾ TỪNG
CÓ TRƯỜNG QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM!
Thông tin này tôi biết được đã lâu nhưng rồi quên không để ý dù rất bất ngờ
khi biết tận năm 1948, ở xứ Huế thơ mộng, người ta đã đặt ở đó một trường đào
tạo ra các sĩ quan.
Lý đó gì mà ở mảnh đất toàn áo dài và nón lá hiền thục lại tồn tại một trường
dạy… đánh trận? Tại sao rất ít bạn bè tôi, cả những người ở xung quanh và ngay
đối diện địa điểm này lại không quan tâm cà chẳng có chút thông tin gì về nơi
ấy? Điều đó thôi thúc tôi cố tìm hiểu về nó, vì địa danh này cũng gắn bó ít
nhiều với thời niên thiếu của mình.
“SĨ QUAN ĐẬP ĐÁ”
Người Huế cỡ U60 như tụi tôi đổ lên nói tới Đập Đá là biết luôn nhưng hỏi có
biết rằng nơi đây đã có “Trường sĩ quan Đập Đá” hay không, nhiều người nói
"chịu"!
Kỳ thật, đã có một trường sĩ quan hiện dịch (tạm hiểu là chế độ quân dịch bắt
buộc) nhằm đào tạo các sĩ quan nòng cốt cho quân đội, có tên là “Trường sĩ quan
Việt Nam” hay còn gọi là “Trường sĩ quan Huế” hoặc “Trường sĩ quan Đập Đá”,
được thành lập ngày 1/12/1948 tại hữu ngạn sông Hương, với sự hỗ trợ của quân
đội Pháp.
Hai năm sau, trường này chuyển về Đà Lạt vì ở đó có đầy đủ các điều kiện về khí
hậu và thực tế huấn luyện để rèn luyện các quân nhân. Trường được đổi tên thành
“Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt”, tọa
lạc tại đồi 1515, cách hồ Than Thở không
xa.
KÝ ỨC 75 NĂM
Câu hỏi vì sao đất Huế thơ mộng lại được chọn làm vị trí để đặt cơ sở đào tạo
sĩ quan này, có thể lý giải: địa điểm trường nằm ngay giữa thành phố Huế rất
thuận lợi, vì từ các nơi có thể đến trường bằng cả 3 loại phương tiện: (1)
đường bộ: dùng xe hơi theo Quốc lộ 1 xuyên Việt Nam, hoặc dùng tàu lửa theo
tuyến đường sắt xuyên Việt chạy song song với Quốc lộ 1; (2) đường hàng không:
đáp máy bay xuống phi trường Phú Bài cách Huế khoảng hơn chục cây số; và (3)
đường thủy: dùng tàu thủy cập cảng Đà Nẵng rồi dùng xe hơi chạy theo Quốc lộ 1
băng qua đèo Hải Vân tới Huế. Có lẽ sau này người ta đã nhận ra một số bất cập
khi đặt trường ở Huế chăng, nên mới chỉ sau 2 năm tồn tại ở đây, trường này đã
dời đi!
Ở thời điểm đó, việc xây dựng trường được giao cho Toà Đại biểu chính phủ tại
miền Trung (do ông Phan Văn Giáo đứng đầu - sau này ông Giáo làm tới
Phó Thủ tướng, Thủ hiến miền Trung dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại) phối hợp với
Bộ Chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn (do đại úy Nguyễn Ngọc Lễ làm chỉ huy
trưởng - sau ông Lễ lên tướng, đứng đầu ngành an ninh, tình báo quốc gia, tư
lệnh một quân đoàn và vùng chiến thuật thời Việt Nam Cộng hòa) thực hiện, bằng cách
chỉnh trang lại một ngôi biệt thự khá rộng (ngang 400m và sâu 200m), nằm trên
đường Lê Lợi [đường này có rất sớm từ đầu thế kỷ 19, cùng thời với việc các
trại thủy sư nhà Nguyễn đóng ở bờ Nam sông Hương. Từ 1943 trở về trước, người
Pháp đặt tên là đường Jules Ferry (Rue Jules Ferry), còn dân gian thì gọi là
đường Thủy sư; giữa năm 1943, đoạn từ cầu Trường Tiền đến Đập Đá được cắt ra
đặt tên đường Graffeuil (Rue Gaffeuil); đoạn còn lại vẫn mang tên Jules Ferry]
cách cầu Tràng Tiền mấy trăm mét, sát bên bờ sông Hương hướng từ Huế đi Phú
Vang, nhìn qua bên kia sông Hương là ngay chợ Đông Ba. Thật kỳ lạ, có người cho
biết địa điểm này là Saint Benoit (tên một quận ở vùng Réunion thuộc Pháp). Có
lẽ một trong những sĩ quan Pháp từng tham gia giảng dạy ở đây thấy vùng Đập Đá
này có nét tương đồng gì đó với địa danh Saint Benoit tận Réunion chăng? Với
địa danh này, lại có thêm một sự trùng hợp thú vị nữa, đó là năm 1951 khi chuyển vào Đà Lạt,
trường lại cũng được đặt bên cạnh hồ… có tên là Saint Bennoit luôn [mà nhiều
người còn nhớ tới địa danh Chi Lăng thời Pháp gọi là “Cite Saint Benoit”
ngay trước hồ Mê Linh - hồ Mê Linh được đào vào những năm đầu thập niên 20
thế kỷ trước với tên gọi là Cité Saint Benoit, là một trong những hồ chứa nước
nằm trong chuỗi hồ nhân tạo với hơn chục hồ lớn nhỏ].
"Trường quân sự Đập Đá", theo mô tả, mặt tiền sát lề phố là một dãy
tường gạch cao chừng 2m, ở giữa có cổng rộng chừng 8m, phía trên có gắn bảng
hiệu hình vòng cung sơn màu xanh lá cây trên kẻ chữ “Ecole Des Officiers
Vietnamiens” (nghĩa là “Trường sĩ quan Việt Nam”) màu vàng. Có tài liệu nói
trường này được ví như “Saint-Cyr Việt Nam” - "École Spéciale Militaire De
Saint-Cyr" thường được gọi là Saint Cyr - học viện lục quân danh giá của
Pháp.
Lại nói tiếp về trường này.
Hông bên trái trường hướng Tây sát với các nhà dân, được ngăn bằng hàng rào kẽm
gai cao 2m đan ô vuông dày 20cm từ lề đường phố thẳng tuốt xuống tận bờ sông
Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi ra vô. Hông bên phải ở hướng Đông có một
dãy tường đá dày 40cm cao hơn 1m ngăn cách với khu biệt thự rất rộng kế bên khi
đó cũng đang bỏ trống không người ở. Sau khi trường này dời về Đà Lạt, cơ sở cũ
này cùng với biệt thự bên cạnh được phá đi để xây “Trường Võ bị Địa phương”
(École Militaire Régionale) thuộc Quân khu 2, cũng đào tạo các hạ sĩ quan.
Rồi mấy năm sau, “Trường Võ bị Địa phương” này lại bị giải tán, nơi này được
giao cho Quân vụ Thị trấn Huế sử dụng làm câu lạc bộ và nhà ở, nhà khách cho
các sĩ quan độc thân.
Thời gian 75 năm trôi qua đã xóa sạch sẽ không còn một dấu tích gì của ngôi
trường ấy, song vẫn còn có các ký ức của những người từng theo học ở đây. Họ đều
nhớ rằng bước qua cổng chính, bên trái là sân rộng có cột cờ cao. Phía sau sân
ở bên trái là ngôi nhà ngói khoảng 400m2 dùng làm trụ sở của Ban Giám đốc
trường gồm văn phòng của vị chỉ huy trưởng, giám đốc huấn luyện, các văn phòng
của các huấn luyện viên và phụ tá.
Phía bên phải sân sau cổng vào là trạm kiểm soát gồm văn phòng sĩ quan trực,
phòng y tế và nơi ngủ của lực lượng bảo vệ. Kế đến là một dãy nhà (dài khoảng
50m rộng 8m) làm phòng ăn tập thể, đồng thời cũng dùng làm giảng đường lớn. Bên
trong nhà ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1m ở chính giữa, suốt chiều dài của nhà có
kê 2 dãy bàn dài bề ngang 1m với những dãy ghế dài không lưng tựa dọc 2 bên để
làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe thuyết trình hoặc làm bài
thi.
Ngay sau lưng trạm kiểm soát và nhà ăn, có 3 dãy nhà khác nhỏ và ngắn hơn dùng
làm phòng học và sinh hoạt riêng mà bên trong y như một lớp học vậy. Suốt bề
dài căn nhà, kê 2 dãy bàn học trò loại bàn liền ghế cho 2 người ngồi chung. Nơi
đầu phòng có một bảng đen lớn. Tất cả các dãy nhà đều lợp mái bằng gốc rạ rất
dày, tường chung quanh là những phên liếp bằng nứa đan. Mỗi nhà có 2 cửa ra vào
tại 2 đầu nhà, dọc hai bên nhà là 2 dãy cửa sổ rộng có cánh liếp nâng lên hạ
xuống được để thông thoáng gió và giúp cho ánh sáng lọt vào nhà những khi không
bật đèn.
Phía trong cùng của khu đất, dọc theo bờ sông Hương có 2 dãy nhà dài nối tiếp
nhau dùng làm nơi ngủ, xây tường gạch mái lợp ngói, bề cao từ nền đến nóc
khoảng 5m không có lớp trần che cản sức nóng từ nóc nhà phà xuống, nên mùa hè
rất nóng và ngược lại mùa đông rất lạnh. Dãy phía bên trái được ngăn đôi, một
nửa dùng làm kho còn nửa kia dành làm phòng ngủ chung cho khoá sinh người từ
miền Nam. Dãy bên phải, nửa bên trái dành cho khoá sinh người miền Trung và nửa
bên phải dành cho khoá sinh từ miền Bắc vô. Dọc theo chiều dài nhà ngủ, kê 2
dãy giường cá nhân bằng gỗ có cọc khung gỗ để giăng mùng chống muỗi. Giường
được kê từng cặp sát bên nhau và một đầu sát tường. Mỗi giường có một chiếu
bằng cói, một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông gòn có thể gập đôi lại được.
Từ đầu nhà ngủ ra đến bờ sông Hương có một con đường đất rộng khoảng 5m, cuối
đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25m2, cao hơn mặt nước sông chừng 30cm,
dùng làm cầu bến tắm giặt, có thể thấy nước sông Hương trong vắt nhìn suốt tận
đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc nơi đầu thuyền bơi dọc ven sông để người
ngồi trên dùng cây chĩa đôi bằng sắt đâm xuống nước để bắt cá. Bên phải con
đường xuống cầu bến tắm là nhà bếp và phía bên trái con đường nơi sát bên hàng
rào gần bờ sông là nhà vệ sinh công cộng đủ cho cả trăm nguời “giải quyết” suốt
ngày đêm.
BÂY GIỜ LÀ VỊ TRÍ NÀO?
Ban đầu khi mới tiếp cận với các tài liệu, tôi nghĩ vị trí này là bến tàu du
lịch hiện nay (trước gọi là bến Tòa khâm - Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, nay là Trường
Đại học Sư phạm Huế), vì dựa vô chi tiết nói trường này chỉ cách cầu Tràng Tiền
chừng 200 mét, nhưng đối chiếu lại thì có lẽ không phải, dù tôi và bạn bè từng
biết và từng tắm trên một cái cầu tàu bằng sắt (đã hoen rỉ) nằm dưới mực nước
sông Hương, ngay trước thảm cỏ công viên đối diện Trường Đại học Sư phạm Huế
bây giờ.
Cho rằng vị trí của trường này có thể nằm ngay nơi khách sạn Century Huế đang
tọa lạc (xây dựng ở những năm 1990) thì cũng không phải, vì vị trí này chưa
phải là Đập Đá, nơi chính xác là phải lối hơn 300m nữa mới tới.
Nhân đây nói thêm chút về Đập Đá. Đập Đá được người Pháp xây dựng từ năm 1917
với mục đích chặn dòng sông Như Ý (một chi lưu của sông Hương) để ngăn mặn phục
vụ nông nghiệp cho các huyện Hương Thủy, Phú Vang và làm đường giao thông nối
Huế và vùng Thuận An cũng như ngăn nước từ thượng nguồn sông
Hương đổ về trong mùa mưa gây nên lũ lụt. Ngày trước ở Huế cứ
qua tháng 7 âm lịch là bắt đầu mùa mưa lụt. Cứ mưa to to chút là
người dân hỏi thăm dò nhau “nước tràn Đập Đá chưa”, nếu tràn
thì người dân Huế hối hả chuẩn bị dọn lụt. Mùa mưa thì mỗi
lần nghe nước tràn Đập Đá là khu vực Vỹ Dạ bị cô lập, không
ai dám lội băng qua Đập Đá vì dòng nước chảy rất xiết. Còn học
trò bọn tôi chỉ mong... lụt để được nghỉ học rồi đi xuống bên này của Đập Đá
(góc Lê Lợi - Nguyễn Công Trứ) đứng nhìn dòng nước hung dữ và hóng hớt bất cứ
chuyện gì. Các bạn tôi ở phía Vỹ Dạ bên kia Đập Đá rất nhiều, hồi đó có đứa
liều lội qua Đập Đá khi nước còn xắp xắp mắt cá chân để về nhà, có đứa tìm cách
đi đò, hoặc nước lớn không thể về được thì không biết về nhà ngả mô nữa, hoặc
tìm nhà người quen mô bên ni mà xin ở lại, nhưng không biết bằng cách nào để báo
cho người nhà ở bên kia Đập Đá biết mà đỡ lo?
Thật tình cờ, bác sĩ Hung
Phan Van - một người bạn Huế từ thuở ấu thơ nay ở tận đất mũi
Cà Mau, đã nhắc thêm cho tôi vài chi tiết liên quan đến vị trí này, do nhớ được
chút ít ký ức năm nào.
Dường như sau 1975, vị trí này là doanh trại bộ đội, còn trước 1975 có người
gọi đây là “nhà đoan” - khu vực của các cơ quan về hải quan hay “trại Tây Kết”
nảo đó (?). Sau giai đoạn do bộ đội quản lý, nơi này có lúc đã trở thành chỗ
chiếu video phim bộ Hongkong và Ấn Độ với các bộ phim thịnh hành khi ấy như
“Mặt nạ quỷ”, “Vợ chồng câm điếc”, sau này còn có thêm mấy phim của Tần Hán,
Lưu Tuyết Hoa đóng nữa mà quên pà tên rồi. Bạn còn nhắc rằng vị trí này (ở ngay
trước nhà bạn "Banh" chung học cấp 3 Quốc Học và nhà mệ Đội) hay được
dùng để chiếu phim bãi, lúc đó phía dưới bờ sông hay có mấy chiếc tàu hút bùn
đậu, mà đám con nít xóm Lê Lợi thường xuống tắm ở đó.
Xâu chuỗi các chi tiết lại, thì chắc chắn, vị trí của ngôi trường ngày xưa ấy,
chính là là phần đất mà cả 2 khách sạn Century và Hương Giang đang nằm trên đó
hiên giờ!
Cao nhân nào có thêm thông tin gì về nơi này, vui lòng chỉ giáo, xin được lắng
nghe.
Vì đời cơ bản là vui dù thông tin cơ bản không có nhiều!
Chú thích ảnh: tòa nhà màu trắng phía bên trái hình là khách sạn Hương Giang,
rất có thể trước đây là phần đất mà một trường quân sự đã đóng trên đó! Còn
"con đường" chạy ngang hình, chính là Đập Đá (Huế), nơi lưu giữ bao
kỷ niệm ấu thơ của tôi và bạn bè Tho Le Bùi
Cẩm Vân Thuý
Vân Bùi Võ
Tiến Han
Pro Nguyen Luong Nguyễn
Đức Tính Khanh Vo
See less
Note của tôi (Hoàng Hoa) Trường Sĩ Quan Hiện
Dịch Huế dời vào Ðà Lạt 19/8/1950 và mở khóa thứ ba ngày 1/10/1950